Hà thủ ô đỏ là rễ củ của cây Fallopia multiflora thuộc họ Rau răm, một vị thuốc bổ quen thuộc trong y học cổ truyền. Dược liệu thường được chế với nước đậu đen qua nhiều lần đồ và phơi để giảm tác dụng nhuận tràng, tăng tác dụng bổ. Theo y học cổ truyền, hà thủ ô chế có công năng bổ can thận, ích tinh huyết, làm đen râu tóc. Người dùng nên chọn dạng đã chế, dùng đúng liều và tham khảo ý kiến thầy thuốc.
Thông tin dược liệu
| Tên khác | Dạ giao đằng (dây), Giao đằng, Mã can thạch, Thủ ô |
|---|---|
| Tên khoa học | Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson (Polygonum multiflorum Thunb.) |
| Họ | Rau răm (Polygonaceae) |
| Bộ phận dùng | Rễ củ đã phơi hoặc sấy khô; thường dùng dạng đã chế với nước đậu đen (hà thủ ô chế) |
| Tính vị | Hà thủ ô chế: vị ngọt, đắng, chát; tính hơi ôn |
| Quy kinh | Can, Thận |
| Nhóm | Bổ huyết – bổ âm |
Công năng theo y học cổ truyền
- Bổ can thận, ích tinh huyết (dạng chế)
- Làm đen râu tóc, mạnh gân cốt (dạng chế)
- Giải độc, nhuận tràng (dạng sống)
Ứng dụng trong y học cổ truyền
- Theo y học cổ truyền dùng trong các chứng can thận âm hư, tinh huyết bất túc
- Râu tóc bạc sớm, hoa mắt chóng mặt, ù tai do huyết hư
- Lưng gối đau mỏi, gân xương yếu
- Dạng sống được dùng trong chứng huyết hư táo bón, mụn nhọt theo YHCT
Liều dùng tham khảo: Hà thủ ô chế: 6–12 g/ngày; hà thủ ô sống: 3–6 g/ngày; dạng thuốc sắc, hoàn hoặc ngâm rượu
Kiêng kỵ và thận trọng
- Nên dùng dạng đã chế đúng quy trình (cửu chưng cửu sái với nước đậu đen); dạng sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn
- Đã có các báo cáo về tác dụng không mong muốn trên gan liên quan đến hà thủ ô; cần dùng đúng liều, không dùng kéo dài và người có bệnh lý gan nên hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi dùng
- Người tỳ hư đại tiện lỏng, đàm thấp nặng không nên dùng; theo kinh nghiệm cổ truyền tránh dùng dụng cụ sắt khi bào chế
Cách nhận biết Hà thủ ô đỏ đạt chất lượng
- Củ hình khối không đều hoặc thái lát; mặt ngoài màu nâu đỏ đến nâu sẫm, có rãnh và vết nhăn
- Mặt cắt màu nâu hồng, có nhiều vân hình đám mây (các bó libe-gỗ bất thường) đặc trưng; chất nặng, chắc
- Vị hơi đắng, chát; hà thủ ô chế có màu nâu đen, bóng, vị ngọt hơn
- Cần phân biệt với củ nâu (Dioscorea cirrhosa) thái lát làm giả: củ nâu mặt cắt đỏ đồng đều, không có vân đám mây, vị rất chát
Bảo quản
Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, đựng trong bao bì kín, tránh ẩm mốc và sâu mọt. Xem thêm hướng dẫn bảo quản dược liệu.
Thông tin trên mang tính tham khảo theo tài liệu y học cổ truyền. Hà thủ ô đỏ là dược liệu, không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh. Vui lòng dùng theo chỉ dẫn của thầy thuốc y học cổ truyền.